Nước ảo và dấu chân nước là gì?

By

Như một thói quen đã in dấu trong suy nghĩ, Việt Nam là một nhà giàu về nước, nước là của trời cho, nên việc sử dụng hiệu quả nước, đặc biệt trong nông nghiệp hầu như ít được quan tâm. Nhưng dạo gần đây, trước những diễn biến khó lường của thiên tai và bệnh dịch, lúc thì mưa lụt, lúc thì hạn hán khiến cho việc tự nhìn nhận lại quan điểm về nước, cách sử dụng và quản lý nước nên được chú trọng hơn. Có lẽ ít người từng nghe đến những thuật ngữ “nước ảo” hay “dấu chân nước”, đây lại là những khái niệm được quan tâm rất nhiều thời gian gần đây trong việc xuất nhập khẩu rau, củ, quả cũng như trong việc hình thành các chính sách sản xuất của các quốc gia, đặc biệt những quốc gia có vấn đề về nước như các nước thuộc khu vực Trung Đông.

Nước ảo

Nước ảo (virtual water) là tổng lượng nước cần cho việc sản xuất sản phẩm hay dịch vụ nhất định xuyên suốt quy trình sản xuất và không chỉ bao gồm lượng nước trực tiếp đang có trong sản phẩm (đó là lý do tại sao gọi là “ảo”).  Với những động vật sống, lượng nước ảo được tính toán dựa trên lượng nước ảo trong thức ăn, lượng nước uống, nước tắm rửa, vệ sinh,… được sử dụng trong suốt quá trình nuôi. Với các sản phẩm hậu chăn nuôi, lượng nước ảo còn bổ sung thêm lượng nước sử dụng trong quá trình chế biến. Đơn vị đo lường của nước ảo là m3/tấn sản phẩm và có giá trị khác nhau tùy từng nơi. Ví dụ, trung bình nước sử dụng trong sản xuất ở Hà Lan cho ngô (900 m3/tấn), lúa mạch (1300 m3/tấn), gạo (3000 m3/tấn); với thịt gà (3900 m3/tấn), lợn (4900 m3/tấn) và bò (15 500 m3/tấn). (Chapagain và Hoekstra, 2004)

Dấu chân nước

Một khái niệm liên quan mật thiết tới nước ảo là dấu chân nước (water footprint).

Dấu chân nước bao quát hơn nước ảo, được phát triển như là một chỉ số với mục tiêu định lượng số lượng nước trong sản phẩm hay dịch vụ được tiêu thụ một cách trực tiếp hay gián tiếp bởi một cá nhân hay cộng đồng cụ thể. Nó có thể được sử dụng để xác định sự giao dịch của nước ảo trên toàn thế giới, đặc biệt quan tâm đến các sản phẩm nông nghiệp bởi chúng là tác nhân chính gây nên những áp lực trong việc sử dụng nước. Đơn vị đo của dấu chân nước cũng vô cùng đa dạng, có thể kể đến như là m3/người/năm hay m3/năm. Dấu chân nước trung bình trên toàn thế giới là 7450 Gm3/ năm, hay 1240 m3/người/năm. Dấu chân nước cũng khác nhau với từng quốc gia, tùy thuộc vào: lượng tiêu thụ (liên quan đến tổng thu nhập quốc dân), thói quen tiêu thụ (ví dụ như tiêu thụ ít hay nhiều thịt), khí hậu (liên quan đến điều kiện sinh trưởng động, thực vật) và khả năng thực hành nông nghiệp (khả năng sử dụng nước hiệu quả), …

Bảng 1: Dấu chân nước trung bình của một số quốc gia trên thế giới

Quốc gia Dấu chân nước (m3/người/năm)
Trung Quốc 700
Hà Lan 1220
Anh 1245
Úc 1390
Đan Mạch 1440
Canada 2050
Bồ Đào Nha 2260
Ý 2330
Hy Lạp 2390
Mỹ 2480
(Nguồn: Water footprints of nations. Value of Water Research Report Series No. 16, UNESCO-IHE, Delft, The Netherlands (2004))

Dấu chân nước được cấu thành bởi 3 phần:

Dấu chân nước xanh lá: là lượng nước có sẵn trong đất được hình thành do lượng mưa và sẵn sàng cho thực vật hấp thụ chúng trực tiếp; hay đối với các sản phẩm chăn nuôi khác thì đó là lượng nước được sử dụng ngay tại khu vực đó.

Dấu chân nước xanh lục: là lượng nước bề mặt hay nước ngầm từ nơi khác được vận chuyển và cung cấp thông qua tưới tiêu hay được đưa vào hệ thống trong suốt quá trình sản xuất.

Dấu chân nước xám: là lượng nước cần để xử lý, đồng hóa lượng nước ô nhiễm do quá trình sản xuất gây ra, nhằm thỏa mãn các tiêu chuẩn chất lượng nước hiện hành.

Ví dụ dấu chân của nước trong sản xuất và chế biến thịt lợn ở Tây Ba Nha là 19.5 tỉ m3/năm (trong đó có 82% dấu chân nước xanh lá, 8% lục và 10% xám) (Miguel, 2015); trong sản xuất cá và các loài giáp xác là 1974 m3/năm (83% xanh lá, 9% lục và 8% xám) (Pahlow, 2015)

Vậy tại sao chúng ta lại phải quan tâm đến khái niệm này?

Hãy lấy một ví dụ thực tiễn mà có thể dễ dàng quan sát được, đối với các quốc gia khan hiếm nước như Israel, nông sản được trồng tương đối nghèo nàn và thường được tập trung vào các sản phẩm tiêu thụ ít nước như: ngô, bắp cải, gà, … và có xu hướng nhập khẩu những loại rau, thịt, cá tiêu tốn nhiều nước. Trong khi đó ở Việt Nam là sự đa dạng của rất nhiều loại nông sản tiêu tốn rất nhiều nước cho quá trình sản xuất và chế biến. Đó là thế mạnh giúp chúng ta có lợi thế xuất khẩu nhưng cũng là một vấn đề cần lưu ý về lâu dài trong việc duy trì tính bền vững trong việc sản xuất nông sản.

Ảnh: Một vài ví dụ về lượng nước tiêu thụ để sản xuất ra một sản phẩm
Nguồn: http://eumindgogreen13.weebly.com

Nguồn tài nguyên nước, đặc biệt là nước ngọt, chiếm vai trò quan trọng không chỉ cho con người mà còn cho tất cả các ngành công nghiệp và sản xuất, tuy nhiên, lượng nước đó đang ngày càng trở nên khan hiếm và cần phải được phân bố cụ thể vào từng mục đích khác nhau một cách có kiểm soát. Việc kết hợp phân tích các khái niệm và chỉ số trên sẽ giúp tạo nên một bộ khung tổng quát, làm nền tảng cho các giải pháp giúp tiết kiệm và quản lý nguồn nước một cách hiệu quả hơn.  

Nguồn tham khảo:

      Á. de Miguel, A.Y. Hoekstra, E. García-Calvo. Sustainability of the water footprint of the Spanish pork industry. Ecol. Indic., 57 (2015), pp. 465-474.

      Pahlow, P.R. Van Oel, M.M. Mekonnen, A.Y. Hoekstra. Increasing pressure on freshwater resources due to terrestrial feed ingredients for aquaculture production. Sci. Total Environ., 536 (2015), pp. 847-857.

      A.K. Chapagain, A.Y. Hoekstra. Water footprints of nations. Value of Water Research Report Series No. 16, UNESCO-IHE, Delft, The Netherlands (2004).

You may also like

Hot News